Chuyên mục: Chuyên đề

Chương XLVI: Sức mạnh nguyên thủy của tạo dựng phải trở thành sức mạnh cứu chuộc cho con người.
2:28 PM 01/07/2016

Chương XLVI:

Sức mạnh nguyên thủy của tạo dựng

phải trở thành sức mạnh cứu chuộc cho con người.


1. Đã bấy lâu nay chúng ta suy tư trong phần hai này xoay quanh tâm điểm là lời loan báo của Đức Giêsu Kitô trong diễn từ trên núi: «Anh em đã nghe Luật dạy rằng: chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo: ai nhìn một người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi» (Mt 5,27-28). Vừa qua, chúng ta cũng đã làm sáng tỏ rằng những lời trên đây không thể được hiểu cũng như giải thích theo hướng Manikê. Dẫu sao, những lời ấy cũng không kết án thân xác và tính dục, nhưng chỉ hàm chứa một nhắc nhở phải vượt thắng dục vọng trong ba mặt của nó, nhất là dục vọng xác thịt. Lời nhắc nhở ấy xuất phát từ chính sự khẳng định phẩm giá ngôi vị của thân xác và tính dục, và chỉ chứng thực mạnh mẽ hơn sự khẳng định ấy mà thôi.


Xác định rõ sự diễn tả đó, hay là, chỉ rõ ý nghĩa đích thật của những lời diễn từ trên núi, những lời mà Đức Kitô đã viện đến tâm hồn con người (Mt 5,27-28), là điều quan trọng, không chỉ vì những «tập quán cố hữu» có nguồn gốc từ khuynh hướng Manikê đã ăn sâu trong cách nghĩ cũng như cách đánh giá các sự việc, nhưng còn vì một số quan điểm cận đại giải thích ý nghĩa về con người và về luân lí nữa. Ricoeur đã coi Freud, Marx, và Nietzche như là những «vị thầy về sự hoài nghi» [1] («maîtres du soupçon»), khi nhớ đến toàn thể những hệ tư tưởng của từng tác giả này, và có lẽ nhất là khi biết đến cái nền tảng ẩn bên dưới và khuynh hướng của mỗi tác giả đã hiểu và lí giải chính bản tính con người (humanum).


Có lẽ cần nhắc đến một chút nền tảng này và khuynh hướng này. Cần phải làm điều đó để khám phá thấy rằng một đàng có điểm gặp gỡ chung rất ý nghĩa, và đàng khác cũng có sự khác biệt căn bản với khoa giải nghĩa (ermeneutica), vốn phát xuất từ nguồn mạch Kinh thánh mà chúng ta cố gắng diễn tả trong các phân tích của mình. Vậy, đâu là điểm gặp gỡ? Các nhà tư tưởng được nhắc đến trên đây đã và đang ảnh hưởng trên suy tư và đánh giá của con người thời đại, xem ra trong bản chất họ cũng phán xét và lên án «lòng» người. Hơn nữa dường như họ phán xét và lên án tâm hồn con người bởi điều mà trong ngôn ngữ Thánh kinh (đặc biệt là Gioan) gọi là dục vọng, dục vọng với ba mặt riêng của nó.


2. Ở đây, ta có thể phân phối cách nào đó từng phương diện cho từng xu hướng tư tưởng. Trong khoa giải nghĩa của Nietzche, sự phán xét và kết án tâm hồn con người một cách nào đó tương ứng với cái mà trong ngôn ngữ Thánh kinh gọi là sự «kiêu hãnh về của cải»; trong khoa giải nghĩa của Marxít, tương ứng với cái gọi là «dục vọng của con mắt»; trong khoa giải nghĩa của Freud, tương ứng với cái gọi là «dục vọng của xác thịt». Điểm gặp gỡ của những quan điểm này với khoa giải nghĩa dựa trên nền tảng Kinh thánh nằm ở chỗ khi khám phá ra dục vọng trên ba mặt của nó trong tâm hồn con người, cả chúng ta lẽ ra cũng phải đặt nghi vấn cõi lòng ấy không ngừng. Thế nhưng, Kinh thánh không để chúng ta dừng lại ở đây. Những lời của Đức Kitô theo Mt 5,27-28 biểu lộ toàn thể thực tại ham muốn và dục vọng, nhưng không chấp nhận dục vọng ấy như là tiêu chuẩn tuyệt đối của nhân học và đạo đức học, hay đúng hơn không chấp nhận nó như là chính điểm cốt lõi của khoa giải nghĩa về con người. Trong Kinh thánh, dục vọng trong ba mặt của nó không phải là tiêu chuẩn nền tảng và càng không phải là tiêu chuẩn duy nhất và tuyệt đối của nhân học và đạo đức học, dẫu rằng đó hẳn là một hệ số quan trọng để hiểu con người, hiểu các hành động của con người giá trị luân lí của chúng.


3. Nếu muốn đạt được một giải thích đầy đủ về những lời của Đức Kitô về con người có cái «nhìn dục vọng» (x. Mt 5,27-28), chúng ta không thể bằng lòng với bất kì một quan niệm nào về «dục vọng», cả khi chúng ta có thể biết được đầy đủ chân lí «tâm lí học»; nhưng phải tham chiếu đến Thư Thứ nhất của Gioan 2,15-16 và «thần học về dục vọng» ẩn chứa trong đó. Con người kẻ «nhìn (...) mà thèm muốn» thật ra là con người của dục vọng ba mặt, là con người của dục vọng xác thịt. Do đó, con người «có thể» nhìn với cái nhìn đó và phải ý thức rằng nếu phó mặc cái nhìn bên trong này cho bản năng tự nhiên tự tung hoành, con người không thể tránh khỏi bị dục vọng xác thịt chi phối. Trong đoạn Tin mừng Mt 5,27-28 Đức Kitô cũng nói đến điều ấy và nhắc nhở ta phải lưu ý. Những lời của Người không những nói đến hành vi «dục vọng» cụ thể, mà cách gián tiếp còn nói đến «con người của dục vọng».


4. Mặc dù có điểm gặp nhau giữa những gì diễn từ trên núi nói về cái tâm của con người [2] với những gì khoa giải nghĩa (ermeneutica) của các «vị thầy về sự hoài nghi» đã diễn tả, tại sao không thể coi những lời của diễn từ trên núi ấy như là cơ sở cho khoa giải nghĩa nói trên hay cho một điều gì đó tương tự? Và tại sao những lời ấy diễn tả, tạo nên một nền đạo đức (ethos) hoàn toàn khác (không những khác với thuyết Manikê mà còn khác với thuyết của Freud) ? Tôi nghĩ rằng tất cả những phân tích và suy tư đã làm cho đến nay đã trả lời cho câu hỏi này. Một cách vắn tắt, có thể nói rằng những lời của Đức Kitô theo Mt 5,27-28 không có ý dẫn ta đến chỗ kết án và không ngừng nghi ngờ tâm hồn con người, nhưng chúng phải được hiểu và giải thích trên hết như là lời nhắc nhở hướng đến tâm hồn con người. Điều đó rút ra từ chính bản tính của nền đạo đức (ethos) của ơn cứu chuộc. Trên nền tảng của mầu nhiệm này, điều mà thánh Phaolô (Rm 8,23) định nghĩa là «sự cứu chuộc thân xác», trên nền tảng của cái thực tại gọi là «ơn cứu chuộc», và cũng từ đó, trên nền tảng của nền đạo đức (ethos) của ơn cứu chuộc thân xác, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở sự kết án cái tâm (địa) con người với lí do là nó thèm khát và chất chứa dục vọng xác thịt. Con người không thể dừng lại ở việc cứ liên tục ngờ vực «tâm hồn» không ngừng vì cớ nó biểu lộ dục vọng xác thịt và dục tình (libido) (đây vốn là điểm nhấn của một trong những nhà phân tâm học qua sự phân tích vô thức [3]). Ơn cứu chuộc là một chân lí, là một thực tại, mà nhân danh điều đó con người phải cảm thấy mình được gọi, và «được gọi thực sự». Con người phải ý thức tiếng gọi ấy còn nhờ những lời của Đức Kitô theo Mt 5,27-28, những lời được đọc lại trong bối cảnh đầy đủ của mạc khải thân xác. Con người phải cảm thấy mình được gọi để tái khám phá, đúng hơn, là để thực hiện ý nghĩa hôn phối của thân xác và diễn tả sự tự do nội tâm của dâng hiến, nghĩa là tình trạng và là sức mạnh tinh thần (hay tâm linh) không bị dục vọng xác thịt thống trị.


5. Con người được Tin mừng, nghĩa là từ «bên ngoài», gọi mời hướng đến điều đó, nhưng đồng thời cũng được gọi mời từ «bên trong». Đức Kitô trong diễn từ trên núi nhắc tới «tâm hồn», và những lời Người nói, theo nghĩa nào đó, dẫn đưa người nghe tới tiếng gọi nội tâm ấy. Nếu người ấy chịu nghe theo những gì lời ấy hoạt động trong mình cũng sẽ đồng thời có thể nghe được trong thâm tâm mình điều gì như thể tiếng vọng của cái «thuở ban đầu», cái «thuở ban đầu» tốt đẹp mà một lần Đức Kitô đã nói đến để nhắc nhở người nghe : con người – tức là người đàn ông, người đàn bà – là ai, và người này đối với người kia là ai trong công trình tạo dựng. Những lời của Đức Kitô tuyên bố trong diễn từ trên núi không phải là một lời nhắc nhở tan loãng vào thinh không. Những lời ấy không hướng tới kẻ còn mãi lặn ngập hoàn toàn trong dục vọng xác thịt, không có khả năng tìm được một hình thức khác của tương giao trong lãnh vực hấp dẫn miên trường này, là cái vốn luôn đi cùng lịch sử của người nam và người nữ, kể từ «thuở ban đầu». Những lời của Đức Kitô làm chứng rằng sức mạnh nguyên thủy (và cả ân sủng nữa) của mầu nhiệm tạo thành trở nên,đối với mỗi người nam cũng như nữ, sức mạnh (nghĩa là ân sủng) của mầu nhiệm cứu chuộc. Điều này liên hệ đến chính «bản tính» tự nhiên, là chính tầng nền của nhân tính của ngôi vị, liên quan đến các xung năng sâu xa nhất của «tâm hồn». Con người (với dục vọng) không cảm thấy một nhu cầu sâu xa phải gìn giữ phẩm giá của các mối tương quan được biểu lộ qua thân xác nhờ giới tính nam và nữ của mình hay sao? Con người không cảm thấy cần phải thấm nhuần các tương quan đó bằng tất cả những gì là cao sang và đẹp đẽ hay sao? Con người không cảm thấy cần phải dành cho chúng cái giá trị cao nhất là tình yêu sao?


6. Đọc lại lời mời gọi này, lời mời gọi vốn hàm ẩn trong lời của Đức Kitô trong diễn từ trên núi, ta thấy nó không thể tách rời khỏi bối cảnh cụ thể của cuộc sống. Lời mời gọi ấy luôn luôn có nghĩa (nhưng chỉ trong chiều kích của hành vi ta đang nói đến) là khám phá lại ý nghĩa của toàn thể hiện hữu, ý nghĩa của cuộc sống (trong đó bao hàm ý nghĩa của thân xác) mà ở đây ta gọi là «hôn phối». Ý nghĩa của thân xác theo nghĩa nào đó là phản đề (antitesi) của libido của Freud. Ý nghĩa của cuộc sống là phản đề của khoa giải nghĩa «hoài nghi». Kiểu giải nghĩa đó thật khác xa với khoa giải nghĩa mà chúng ta khám phá lại trong lời của Đức Kitô trong diễn từ trên núi. Những lời ấy không những mở ra một nền đạo đức (ethos) khác, mà còn mạc khải một viễn tượng khác các khả thể của con người. Trong chính tâm hồn mình con người không chỉ cảm thấy phải bị kết án và làm mồi cho thú dục vọng xác thịt, nhưng đồng thời còn cảm thấy mình được kêu gọi rất mạnh mẽ. Được gọi hướng tới sống chính giá trị cao đẹp nhất là tình yêu. Được gọi trong tư cách một ngôi vị trong sự thật của nhân tính mình, và cũng là trong sự thật của giới tính là nam và là nữ của mình, trong sự thật của thân xác mình. Được gọi trong sự thật vốn là di sản của cái «thuở ban đầu», di sản của tâm hồn, còn sâu hơn cả tội lỗi nguyên tổ di truyền, sâu hơn cả cái dục vọng với ba mặt của nó. Những lời của Đức Kitô được đặt trong bối cảnh của toàn thể thực tại tạo thành và cứu chuộc, đã tái hiện lại di sản sâu xa nhất và thông ban cho nó một sức mạnh thực sự trong cuộc sống con người.

*****************************

[1] «Triết gia được đào luyện từ trường phái Descartes biết rằng các sự vật đều đáng ngờ, bản chất của chúng không như chúng lộ hiện. Thế nhưng người ấy không nghi ngờ ý thức xuất hiện trước chính mình chân thực.... Kể từ thời Marx, Nietzche và Freud chúng ta hoài nghi điều ấy. Sau khi hoài nghi về sự vật, chúng ta đã bắt đầu hoài nghi về ý thức của mình.

Thế nhưng ba bậc thầy về sự hoài nghi này không phải là ba bậc thầy của thuyết hoài nghi (scepticisme); họ chắc chắn là ba “kẻ phá hoại” [...].

Sau họ, hiểu (la compréhension) đã trở thành một lối giải nghĩa (herméneutique): tìm kiếm ý nghĩa, từ nay, đó không còn có nghĩa là ý thức vế ý nghĩa, nhưng là giải mã (déchiffrer)các diễn ngữ. Thế nên, điều ta phải đương đầu không phải chỉ là ba kiểu hoài nghi, nhưng là ba thủ đoạn [...].

Người ta đồng thời cũng khám phá một nét giống nhau sâu xa hơn giữa Marx, Freud và Nietzche. Tất cả ba người khởi đầu bằng một nghi ngờ liên hệ tới những ảo tưởng của ý thức và tiếp nối bằng trò giải mã...» (P. Ricoeur, Le conflit des interprétations, Seuil, Paris 1969, pp. 149-150).

[2] Cũng nên xem thêm Mt 5,19-20.

[3] Xem thí dụ của Freud với khẳng định tiêu biểu trong cọng trình cuối cùng: «Den Kern unseres Wesens bildet also das dunkel Es, das nicht direkt mit der Auβenwelt verkehrt und auch unserer Kenntnis nur durch die Vermittlung einer anderen Instanz zugänglich wird. In diesem Es wirken die organischen Triebe, selbst auch Mischungen von zwei Urkräften (Eros und Destruktion) in wechselnden Ausmaβen zusammengesetzt und durch ihre Beziehung zu Organen oder Organsystemen voneinander differenziert.

Das einzige Streben dieser Triebe ist nach Befriedigung, die von bestimmten Veränderungen an den Organen mit Hilfe von Objekten der Auβenwelt erwartet wird» (S. Freud, Abriβ der Psychoanalyse. Das Unbehagen der Kultur, Fischer, Frankfurt/M. – Hamburg 19554, pp. 74-75).

Thế nên, cái «cốt tủy» hay «tâm hồn» của con người có lẽ bị thống trị bởi sự kết hợp giữa bản năng dục tình và bản năng hủy diệt, và sống chính là thỏa mãn chúng.

 

Lm. Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển ngữ

Lên đầu trang
Đang truy cập: 105
Tổng lượt truy cập: 4541460
GIA ĐÌNH NAZARETH VIỆT NAM
Email: giadinhnaza@gmail.com



Suy niệm Tin Mừng, Suy niệm Thơ Tin Mừng, Gia Đình Nazareth VN, Cộng Đoàn Gia Đình Chúa, Thần Học Thân Xác Giáo Hội Việt Nam, Hôn Nhân Gia Đình, Thiết kế website, Bảo trì website, Quản trị website, Thay đổi giao diện website, Thêm chức năng cho website,