Chuyên mục: Chuyên đề

Chương XLIV: Các giá trị Tin Mừng và các bổn phận của tâm hồn con người
5:11 PM 11/06/2016

Chương XLIV

Các giá trị Tin Mừng

và các bổn phận của tâm hồn con người

 

1. Trong tất cả các chương trước đây của phần thứ hai này chúng ta đã phân tích cách riêng biệt các nhân vị của diễn từ trên núi, trong đó Đức Kitô đã nhắc đến «tâm hồn» («lòng») con người. Như chúng ta đã biết, những lời của Người thúc đẩy chúng ta phải dấn thân. Đức Kitô nói: «Anh em đã nghe Luật dạy rằng : chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi» (Mt 5,27-28). Nhắc đến tâm hồn như vậy làm nổi rõ chiều kích nội giới của con người, chiều kích con người nội tâm, là chiều kích riêng của đạo đức học, và hơn nữa của thần học về thân xác. Sự thèm muốn xuất hiện trong lãnh vực của dục vọng xác thịt, đồng thời là một thực tại thuộc nội giới và có tính thần học, một thực tại cách nào đó được mọi con người «lịch sử» kinh nghiệm. Và chính con người này (cho dẫu người ấy không biết đến lời của Đức Kitô) phải không ngừng tự chất vấn «lòng» mình. Lời của Đức Kitô làm cho câu hỏi đó trở nên hết sức rõ ràng: lòng con người bị kết án, hoặc là, được mời gọi hướng đến điều thiện hảo? Và câu hỏi này giờ đây chúng tôi có ý đem ra xem xét để suy tư và phân tích cho đến tận cùng, liên kết với đoạn Tin mừng cô đọng nhưng dứt khoát, chứa đầy nội dung thần học, nhân học và đạo đức học như thế.


Một câu hỏi thứ hai được nêu lên tương tự nhưng mang tính «thực hành» hơn: Con người, một khi đã đón nhận lời của Đức Kitô nói trong diễn từ trên núi, tức là con người đã chấp nhận nền đạo đức (ethos) của Tin mừng, và đặc biệt chấp nhận trong lãnh vực này, «có thể» hành động làm sao và «phải» hành động như thế nào?


2. Qua những gì chúng ta đã xét cho đến nay, con người này tìm được câu trả lời, ít là gián tiếp, cho hai câu hỏi: người ấy «có thể» hành động như thế nào, nghĩa là, người ấy có thể dựa vào cái gì trong «nơi sâu kín» của lòng mình, nơi là nguồn mạch của mọi hành vi «nội giới» và «ngoại giới» của mình? Và, câu hỏi thứ hai là, người ấy «phải» làm như thế nào? Có nghĩa là, những giá trị biết được trong «thang (giá trị)», qua mạc khải diễn từ trên núi, hình thành nên một nghĩa vụ cho ý chí, cho «tâm hồn», cho những khao khát và lựa chọn của con người, cách nào? Những giá trị ấy «câu thúc» con người như thế nào trong hành động, trong cách sống, nếu như chúng (một khi đã được nhận thức) đã «nhúng» con người vào trong tâm tưởng và, cách nào đó, trong «cảm thức» rồi? Những câu hỏi này rất có ý nghĩa cho sự «thực hành» của con người, chúng cho thấy một nối kết hữu cơ của chính sự «thực hành» («praxis») với nền đạo đức (ethos). Một luân lí sống động luôn luôn là một nền đạo đức của sự thực hành do con người.


3. Đối với những câu hỏi trên đây người ta có thể trả lời nhiều cách khác nhau. Thật vậy, trong quá khứ cũng như hiện tại có những câu trả lời khác nhau. Điều đó được xác nhận trong bối cảnh phong phú của văn chương. Ngoài những giải đáp tìm thấy trong đó, ta cũng cần phải xét tới vô số những giải đáp mà con người cụ thể tự đưa ra cho chính mình trước những câu hỏi đó. Đó là những giải đáp trong đời sống của mỗi người do lương tâm của họ, ý thức và cảm thức luân lí của họ thường xuyên đưa ra. Chính trong không gian này mà nền đạo đức và sự thực hành không ngừng thấm nhập vào nhau. Ở đây các nguyên tắc riêng rẽ (không chỉ là nguyên tắc lí thuyết) được trở nên sống động. Đó là những qui tắc của luân lí cùng với những lí do của chúng mà các nhà luân lí đã soạn ra và phổ biến, và cả những qui tắc do mỗi cá nhân riêng rẽ đề ra (hẳn là có kết hợp với công trình của các nhà luân lí và khoa học), họ như là tác giả và là chủ thể trực tiếp của khoa luân lí thực tế, như là những đồng tác giả của lịch sử của khoa luân lí ấy, từ đó xác định trình độ của chính khoa luân lí, của sự tiến bộ hay thoái suy của nó. Tất cả những điều ấy ở khắp mọi nơi và luôn luôn tái xác nhận «con người lịch sử», là kẻ mà Đức Kitô một lần đã từng nói chuyện khi Người loan báo Tin lành Phúc âm trong diễn từ trên núi, trong đó Người có nói nói câu Mt 5,27-28: «Anh em đã nghe Luật dạy rằng : chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi».


4. Tuyên bố của Matthêu được trình bày hết sức cô đọng, liên hệ đến tất cả những gì đã được viết ra trong văn chương thế giới về chủ đề này. Và có lẽ chính điều này đã tạo nên sức mạnh của nó trong lịch sử của nền đạo đức. Đồng thời cần lưu ý đến sự kiện là lịch sử nền đạo đức tuôn chảy trong một lòng sông với đa dạng các dòng nước riêng có khi xa cách có khi gần gũi nhau. Con người «lịch sử» luôn định giá «lòng dạ» mình, theo cách thức riêng, cũng giống như nó phán xét «thân xác» mình. Như thế đó, con người ấy chuyển vị từ cực bi quan đến cực lạc quan, từ khuynh hướng thanh luyện khắt khe đến kiểu sống buông thả của thời nay. Cần nhớ điều đó để nền đạo đức của diễn từ trên núi luôn có được một nét trong sáng phải có trong hành vi và thái độ sống của con người. Với mục đích ấy chúng ta còn cần phải phân tích thêm chút nữa.


5. Suy tư về ý nghĩa của những lời Đức Kitô nói trong Mt 5,27-28 sẽ không đầy đủ nếu chúng ta không dừng lại một chút ở điều mà người ta có thể gọi là âm hưởng của những lời ấy trong lịch sử của tư tưởng nhân loại và sự đánh giá nền đạo đức. Âm hưởng luôn là một sự biến dạng tiếng nói và lời do tiếng ấy diễn tả. Kinh nghiệm cho biết rằng đôi khi những biến đổi ấy đầy sức hấp dẫn nhiệm mầu. Trong trường hợp chúng ta đang bàn luận, có lẽ xảy ra cái gì đó ngược lại. Thật vậy, người ta đã tước mất đi tính đơn giản và sâu sắc của những lời Đức Kitô, thay vào đó đã gán cho nó một ý nghĩa xa lạ với những gì lời ấy muốn diễn tả, một ý nghĩa xét cho cùng thậm chí trái nghịch hẳn với lới ấy. Ở đây chúng ta nhớ đến tất cả những gì đã xuất hiện bên lề Kitô giáo dưới danh nghĩa chủ thuyết Manikê [1] và cũng đã đi vào trong lòng Kitô giáo trong chính lãnh vực thần học và đạo đức học về thân xác. Chúng ta biết rằng dưới hình thức nguyên thủy thuyết Manikê, xuất hiện ở Đông Phương bên ngoài môi trường của Kinh thánh và thoát thai từ thuyết nhị nguyên Mazđaít, khẳng định nguồn gốc của sự ác là ở nơi vật chất, nơi thân xác và tuyên bố kết án tất cả những gì là xác thịt nơi con người. Và bởi vì trong con người tính xác thịt được biểu lộ đặc biệt qua giới tính, cho nên thuyết này cũng kết án luôn cả hôn nhân và sự sống chung vợ chồng, ngoài những lãnh vực khác trong đó tính xác thịt được bộc lộ ra qua hiện hữu và hành động.


6. Đối với những người mới thoạt nghe, hệ thống chủ thuyết rõ là khắc nghiệt đó xem ra đồng điệu với những lời nghiêm khắc Đức Kitô nói trong Mt 5,29-30 về chuyện «móc mắt» hoặc «chặt tay» nếu những phần thân thể này trở thành cớ cho sự sa ngã hay dịp tội. Do sự giải thích thuần «chất thể» về các phát biểu này, người ta có thể bắt nắm một nhãn quan Manikê nơi những tuyên bố của Đức Kitô nói về con người kẻ đã «ngoại tình trong lòng... bởi nhìn một người phụ nữ mà thèm muốn». Ngay cả trường hợp này, chú giải theo hướng Manikê có xu hướng kết án thân xác như cội nguồn thực của sự ác, vì theo chủ thuyết Manikê thân xác vừa ẩn chứa vừa bộc lộ nguyên lí «hữu thể» của sự ác. Người ta đã cố phát hiện và đôi khi cũng thấy trong Tin mừng sự kết án đó, họ thấy điều đó nơi nào diễn tả chỉ một mình yêu sách đặc biệt về tinh thần con người.


Nên biết rằng sự kết án này đã và luôn có thể là một cái cớ cho sự né tránh những đòi hỏi trong Tin mừng của Đức Kitô, Đấng «biết mỗi người nghĩ gì ở trong lòng» (Ga 2,25). Trong lịch sử không thiếu những bằng chứng cho thấy điều đó. Chúng ta đã phần nào có dịp (và sẽ còn có dịp) minh chứng trong chừng mực nào đòi hỏi đó có thể xuất hiện chỉ như một khẳng định thân xác – chứ không phủ nhận hay kết án – nếu không muốn nói là phải đi đến một khẳng định còn chín chắn và sâu sắc hơn cả về mặt khách quan và chủ quan. Và một khẳng định như thế về giới tính, là nam và nữ tính, của con người, như là chiều kích ngôi vị của thân xác, là điều mà những lời Đức Kitô nói theo Mt 5,27-28 phải dẫn đến. Đó là ý nghĩa đạo đức học đúng đắn của những lời này. Chúng in dấu, trên những trang Tin mừng, một chiều kích đạo đức đặc thù để rồi sau đó in dấu trên cuộc sống con người.

Chúng ta sẽ cố bàn lại chủ đề này trong những suy tư kế tiếp. 

--------------------------------------

[1] Thuyết Manikê chứa đựng và làm chín muồi những yếu tố đặc trưng của các loại thuyết «Ngộ đạo» («Gnosi»), tức nhị nguyên thuyết vốn quan niệm có hai nguyên lí đồng vĩnh cửu và hoàn toàn đối nghịch nhau, và quan niệm một thứ cứu độ chỉ thực hiện được nhờ nhận thức (gnosi) hay tự hiểu biết chính mình. Trong mọi huyền thoại manikê chỉ có một nhân vật chính và một hoàn cảnh luôn lặp lại, đó là, linh hồn sa đọa bị giam hãm trong tù ngục của vật chất và được giải thoát bởi sự hiểu biết (ngộ đạo).


Hoàn cảnh lịch sử hiện tại là tiêu cực đối với con người, bởi đó là một tình trạng hỗn hợp tạm thời và bất thường giữa tinh thần và vật chất, giữa cái thiện và cái ác. Điều đó giả định có một tình trạng nguyên thủy trước đó, khi đó hai bản thể ấy tách biệt và độc lập nhau. Vì thế, có ba «thời kì»: «thời khởi nguyên» khi hai bản thể nguyên thủy ấy tách biệt; «thời trung gian» là thời hiện tại đánh dấu tình trạng hỗn hợp; và «thời sau cùng» khi trở lại tình trạng tách biệt nguyên thủy, là sự cứu độ, hàm chứa một ly phân hoàn toàn giữa Tinh Thần và Vật Chất.


Vật Chất, tự nền tảng, là dục vọng, là sự thèm muốn khoái lạc xấu xa, là bản năng sự chết, có thể ví như (nếu không đồng nhất với) dục tình, «libido». Đó là một lực lượng muốn hướng tới tấn công Ánh sáng; là một vận động vô trật tự, thèm muốn thú tính, cục súc, thuộc tiềm thức.


Ađam và Evà đã được sinh ra từ hai quỷ thần. Nhân loại chúng ta được sinh ra từ hệ quả của những hành động ghê tởm ăn thịt đồng loại và dâm dục, và còn lưu giữ trên mình những dấu tích của nguồn gốc quỷ ma ấy, là xác thân, đó là hình dạng súc vật của các «vị thần địa ngục» và là dục tình «libido» nó thúc giục con người cặp đôi lại với nhau rồi sinh sản ra thêm, và như thế có nghĩa là tiếp tục giam giữ linh hồn sáng láng mãi mãi trong tù ngục.


Nếu muốn được cứu thoát, con người phải tìm cách giải thoát cái «tự ngã sống động» của mình (noûs) khỏi nhục thể và thân xác. Bởi vì Vật Chất có hình thức diễn tả cao nhất của nó nơi dục vọng, nên tội lỗi nguy tử là ở nơi sự giao hợp tính dục (thông dâm), đó là điều thô bỉ và cục súc nhất biến con người thành dụng cụ và đồng lõa với Ác thần bởi hành động sinh sản.


Những người được tuyển chọn làm thành nhóm người hoàn hảo với nhân đức đặc trưng là sống khổ chế, kiêng khem, tuân theo ba «dấu niêm ấn» sau đây: «niêm ấn trên miệng» cấm chửi rủa và truyền phải kiêng thịt thà, máu huyết, rượu nho hoặc mọi thức uống có men, và kể cả phải ăn chay; «niêm ấn trên tay» truyền phải tôn trọng sự sống («Ánh sáng») có trong các cơ thể, hạt giống hay tinh dịch, trong các cây cỏ và cấm hái trái, nhổ cây, hủy diệt sự sống con người và loài vật; «niêm ấn nơi lòng dạ» truyền phải hoàn toàn tiết chế (x. H. Ch. Puech, Le Manichéisme: son fondateur – sa doctrine [Musée Guimet, t. LVI], Paris 1949, tt. 73-88; H. Ch. Puech, Le Manichéisme, in Histoire des Religions [Encyclopédie de la Pleiade] II, Gallimard 1972, tt. 522-645; J. Ries, Manichéisme, in Catholicisme hier, aujourd’hui, demain, 34, Letouzey-Ané, Lille 1977, tt. 314-320).

 

Lm. Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển ngữ

Lên đầu trang
Đang truy cập: 68
Tổng lượt truy cập: 5538481
GIA ĐÌNH NAZARETH VIỆT NAM
Email: giadinhnaza@gmail.com



Suy niệm Tin Mừng, Suy niệm Thơ Tin Mừng, Gia Đình Nazareth VN, Cộng Đoàn Gia Đình Chúa, Thần Học Thân Xác Giáo Hội Việt Nam, Hôn Nhân Gia Đình, Thiết kế website, Bảo trì website, Quản trị website, Thay đổi giao diện website, Thêm chức năng cho website,